ImageVerifierCode 换一换
格式:DOC , 页数:8 ,大小:101KB ,
资源ID:7659203      下载积分:10 金币
快捷注册下载
登录下载
邮箱/手机:
温馨提示:
快捷下载时,用户名和密码都是您填写的邮箱或者手机号,方便查询和重复下载(系统自动生成)。 如填写123,账号就是123,密码也是123。
特别说明:
请自助下载,系统不会自动发送文件的哦; 如果您已付费,想二次下载,请登录后访问:我的下载记录
支付方式: 支付宝    微信支付   
验证码:   换一换

开通VIP
 

温馨提示:由于个人手机设置不同,如果发现不能下载,请复制以下地址【https://www.zixin.com.cn/docdown/7659203.html】到电脑端继续下载(重复下载【60天内】不扣币)。

已注册用户请登录:
账号:
密码:
验证码:   换一换
  忘记密码?
三方登录: 微信登录   QQ登录  

开通VIP折扣优惠下载文档

            查看会员权益                  [ 下载后找不到文档?]

填表反馈(24小时):  下载求助     关注领币    退款申请

开具发票请登录PC端进行申请

   平台协调中心        【在线客服】        免费申请共赢上传

权利声明

1、咨信平台为文档C2C交易模式,即用户上传的文档直接被用户下载,收益归上传人(含作者)所有;本站仅是提供信息存储空间和展示预览,仅对用户上传内容的表现方式做保护处理,对上载内容不做任何修改或编辑。所展示的作品文档包括内容和图片全部来源于网络用户和作者上传投稿,我们不确定上传用户享有完全著作权,根据《信息网络传播权保护条例》,如果侵犯了您的版权、权益或隐私,请联系我们,核实后会尽快下架及时删除,并可随时和客服了解处理情况,尊重保护知识产权我们共同努力。
2、文档的总页数、文档格式和文档大小以系统显示为准(内容中显示的页数不一定正确),网站客服只以系统显示的页数、文件格式、文档大小作为仲裁依据,个别因单元格分列造成显示页码不一将协商解决,平台无法对文档的真实性、完整性、权威性、准确性、专业性及其观点立场做任何保证或承诺,下载前须认真查看,确认无误后再购买,务必慎重购买;若有违法违纪将进行移交司法处理,若涉侵权平台将进行基本处罚并下架。
3、本站所有内容均由用户上传,付费前请自行鉴别,如您付费,意味着您已接受本站规则且自行承担风险,本站不进行额外附加服务,虚拟产品一经售出概不退款(未进行购买下载可退充值款),文档一经付费(服务费)、不意味着购买了该文档的版权,仅供个人/单位学习、研究之用,不得用于商业用途,未经授权,严禁复制、发行、汇编、翻译或者网络传播等,侵权必究。
4、如你看到网页展示的文档有www.zixin.com.cn水印,是因预览和防盗链等技术需要对页面进行转换压缩成图而已,我们并不对上传的文档进行任何编辑或修改,文档下载后都不会有水印标识(原文档上传前个别存留的除外),下载后原文更清晰;试题试卷类文档,如果标题没有明确说明有答案则都视为没有答案,请知晓;PPT和DOC文档可被视为“模板”,允许上传人保留章节、目录结构的情况下删减部份的内容;PDF文档不管是原文档转换或图片扫描而得,本站不作要求视为允许,下载前可先查看【教您几个在下载文档中可以更好的避免被坑】。
5、本文档所展示的图片、画像、字体、音乐的版权可能需版权方额外授权,请谨慎使用;网站提供的党政主题相关内容(国旗、国徽、党徽--等)目的在于配合国家政策宣传,仅限个人学习分享使用,禁止用于任何广告和商用目的。
6、文档遇到问题,请及时联系平台进行协调解决,联系【微信客服】、【QQ客服】,若有其他问题请点击或扫码反馈【服务填表】;文档侵犯商业秘密、侵犯著作权、侵犯人身权等,请点击“【版权申诉】”,意见反馈和侵权处理邮箱:1219186828@qq.com;也可以拔打客服电话:0574-28810668;投诉电话:18658249818。

注意事项

本文(浅析越南语的翻译艺术.doc)为本站上传会员【xrp****65】主动上传,咨信网仅是提供信息存储空间和展示预览,仅对用户上传内容的表现方式做保护处理,对上载内容不做任何修改或编辑。 若此文所含内容侵犯了您的版权或隐私,请立即通知咨信网(发送邮件至1219186828@qq.com、拔打电话4009-655-100或【 微信客服】、【 QQ客服】),核实后会尽快下架及时删除,并可随时和客服了解处理情况,尊重保护知识产权我们共同努力。
温馨提示:如果因为网速或其他原因下载失败请重新下载,重复下载【60天内】不扣币。 服务填表

浅析越南语的翻译艺术.doc

1、浅析越南语的翻译艺术 Dịch thuật, một vấn nạn ngôn ngữ   23.12.01 Dịch thuật có liên quan mật thiết đến việc phân tích và so sánh cấu trúc ngữ pháp các ngôn ngữ. Những thành quả nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại có thể được áp dụng như thế nào trong việc này, cụ thể hơn nữa là trong việc dịch từ các th

2、ứ tiếng như tiếng Anh và tiếng Ðức sang tiếng Việt? Dũng Vũ, tác giả công trình nghiên cứu Tiếng Việt và Ngôn ngữ học hiện đại - Sơ khảo về cú pháp, sắp xuất bản, tìm cách trả lời câu hỏi này trong bài viết sau. Xưa nay đã có nhiều cuộc bàn luận về dịch thuật. Người ta có thể bàn đủ thứ, song có lẽ

3、 ít ai nhận ra cái hệ quả tai hại của dịch thuật, đặc biệt là giới dịch thuật khoa học nhân văn. Hầu hết người dịch chỉ quan tâm đến cái khó của dịch thuật là làm sao chuyển tải chính xác ý tưởng một văn bản được viết bằng một thứ ngôn ngữ gốc sang một ngôn ngữ dịch. Dịch văn đã khó, dịch thơ càng

4、 khó nữa. Ðại để, người ta chỉ chú tâm vào khía cạnh ấy và xem đó như một vấn đề. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề chính. Cái vấn đề chính là dịch thuật có thể phá hư ngôn ngữ mà ít ai để ý. Phải xem đấy là vấn nạn thì đúng hơn và tiếng Việt là một nạn nhân điển hình của vấn nạn dịch thuật. Kh

5、ông cần học ngôn ngữ học, không cần hiểu biết các lý thuyết ngữ pháp phức tạp, ai cũng biết, mỗi ngôn ngữ đều có cấu trúc riêng, nếu anh/chị ấy biết ít nhất hai ngôn ngữ. Ngôn ngữ không bất định mà có ngữ pháp. Mỗi ngôn ngữ đều có ngữ pháp riêng. Ngữ pháp của một ngôn ngữ không phải là cái gì ngẫu n

6、hiên từ trên trời rơi xuống mà có quy tắc và logic, nó là kết quả của nguyên tắc hành ngôn đặc thù. Ví dụ tiếng Anh là một loại ngôn ngữ tuyến tính, tiếng Ðức không tuyến tính, tiếng Việt là một ngôn ngữ tịnh tiến (1). Nhờ thẩm năng ngôn ngữ, con người sẽ nhận ra ngay, một câu nói có phải là ngôn ng

7、ữ mà mình thông thạo hay không. Thử xem một ví dụ, Lê Văn Lý (1948) dùng 5 chữ tạo ra nhiều câu:   Sao nó bảo không đến?   Sao bảo nó không đến?   Sao không đến bảo nó?   Sao nó không bảo đến?   Sao? Ðến bảo nó không?   Sao? Bảo nó đến không?   Nó đến, sao không bảo?   Nó đến, không bảo sao

8、   Nó đến bảo không sao.   Nó bảo sao không đến?   Nó đến, bảo sao không?   Nó bảo đến không sao.   Nó bảo không đến sao?   Nó không bảo, sao đến?   Nó không bảo đến sao?   Nó không đến bảo sao?   Bảo nó sao không đến?   Bảo nó: Ðến không sao.   Bảo sao nó không đến?   Bảo nó đến, sao k

9、hông?   Bảo nó không đến sao?   Bảo không, sao nó đến?   Bảo! Sao, nó đến không?   Không bảo, sao nó đến?   Không đến bảo nó sao?   Không sao, bảo nó đến.   Không bảo nó đến sao?   Không đến, bảo nó sao?   Không đến, nó bảo sao?   Ðến bảo nó không sao.   Ðến không? Bảo nó sao?   Ðến khôn

10、g? Nó bảo sao?   Ðến, sao không bảo nó?   Ðến bảo nó sao không?   Ðến, sao nó không bảo.   Ðến, nó bảo không sao.   Ðến, nó không bảo sao?   Ðến, sao bảo nó không?   Với trò chơi hoán vị 5 từ bên trên, theo lý thuyết, ta sẽ được 120 chuỗi từ khác nhau (theo công thức 5! [5 giai thừa]). Song

11、 thực ra chỉ có 38 chuỗi từ nói được. Tạm cho là vậy, nhưng thế nào là nói được? Tại sao người Việt thấy câu “Nó đến, sao bảo không?” nói được nhưng câu “Nó đến không sao bảo” thì không nói được? Người Việt còn có cảm giác ấy, nhưng người ngoại quốc không rành tiếng Việt thì sao? Cảm thấy một câu, m

12、ột thành tố, một chuỗi từ, một cụm từ nói được bởi vì trong vô thức của từng người Việt đã tồn tại sẵn cái kho tàng cấu trúc tiếng Việt. Chỉ có những cấu trúc nhất định người Việt mới chấp nhận. Với trò chơi hoán vị 5 từ bên trên, theo lý thuyết, ta sẽ được 120 chuỗi từ khác nhau (theo công thức 5!

13、 [5 giai thừa]). Song thực ra chỉ có 38 chuỗi từ nói được. Tạm cho là vậy, nhưng thế nào là nói được? Tại sao người Việt thấy câu “Nó đến, sao bảo không?” nói được nhưng câu “Nó đến không sao bảo” thì không nói được? Người Việt còn có cảm giác ấy, nhưng người ngoại quốc không rành tiếng Việt thì sao

14、 Cảm thấy một câu, một thành tố, một chuỗi từ, một cụm từ nói được bởi vì trong vô thức của từng người Việt đã tồn tại sẵn cái kho tàng cấu trúc tiếng Việt. Chỉ có những cấu trúc nhất định người Việt mới chấp nhận. Một ví dụ khác. Giả sử người Việt nói:   Một cô gái đẹp. Cùng nội dung ấy, ngư

15、ời Anh sẽ nói: “a pretty girl”, hoặc người Ðức: “ein schönes Mädchen”. Rõ ràng hai cấu trúc cú pháp khác nhau (2). Ðặt câu hỏi, vì sao người Việt không đặt tính từ “đẹp” trước danh từ “cô gái” mà nói “một đẹp cô gái” cho giống người Anh, người Ðức? Người Tàu nói một “mỹ nhân”. “Mỹ” là “đẹp”, “nhân”

16、là “người”. Tại sao người Việt lại đi nói ngược thành “người đẹp”. Nói theo ngôn ngữ học là tại sao danh từ trong tiếng Hoa được bổ nghĩa bên trái, còn tiếng Việt thì bên phải? Cái gì cũng có nguyên nhân của nó. Tiếng Việt là một ngôn ngữ thường dùng nguyên tắc đề diễn (theme/subject interpretatio

17、n). Người Việt thường lập câu tịnh tiến để diễn đạt nguyên tắc này. Nguyên tắc đề diễn nói lên trình tự nhận diện và nhận thức về một đối tượng muốn diễn tả. Cái trình tự này giống như một hàm số vậy, trước nhất phải có phần tử gốc, rồi sau đó mới ứng dụng được một hàm số chọn lọc lên đó để được một

18、 phần tử ảnh. Ở ví dụ trên, đối tượng “một cô gái” chính là phần tử gốc. “Ðẹp” là hàm số. Kết quả là “một cô gái đẹp”, một phần tử ảnh. Ðiều này logic bởi vì trước nhất phải có “một cô gái” đã rồi mới xem có “đẹp” không. Trước nhất phải nhận diện được đối tượng rồi mới nhận thức xem đối tượng ấy ra

19、sao. Bởi cái trật tự logic này không thể đảo ngược, cho nên người Việt mới nói xuôi. Trong khi đó, người Anh, người Ðức, người Tàu đều nói ngược. Do đó mà ngay điểm này, cấu trúc cú pháp của họ mới không giống cấu trúc cú pháp tiếng Việt. Ðiều họ nói ngược có lý do của nó. Nó có liên quan đến cấu tr

20、úc sâu (deep structure) và cấu trúc bề mặt (surface structure), hình thái ngôn ngữ, ... (không thể kể hết ra đây; xin xem chi tiết ở Chomsky 1979, Language and Responsibitity). Như đã thấy, nguyên tắc hành ngôn tiếng Việt quyết định ngữ pháp. Ngữ pháp mà bị làm méo mó thì cả cái hệ thống nguyên tắc

21、 hành ngôn cũng bị ảnh hưởng lây. Theo thời gian, hạ tầng cơ sở tiếng Việt sẽ từ từ xuống cấp. Cuối cùng, đến một lúc nào đó, chắc chắn sẽ không còn ai đủ can đảm hoặc đủ khả năng giải thích nổi cái cấu trúc của tiếng Việt, bởi nó đã bị loạn chiêu hóa, phi logic hóa. Xưa nay ngữ pháp tiếng Việt đã

22、 bị biến đổi một cách vô tình, chủ yếu là qua hoạt động dịch thuật và đa phần đều xuất phát từ dịch thuật khoa học nhân văn. Thiếu kiến thức ngôn ngữ học, người dịch có thể làm hư tiếng Việt lúc nào không biết. Biết thế nhưng làm sao có thể trách một người là đã đi sao y cái cấu trúc ngữ pháp tiếng

23、Anh, tiếng Pháp vào tiếng Việt trong khi người ấy không phân biệt được cấu trúc ngữ pháp của hai ngôn ngữ khác nhau thế nào? Cái khác biệt của từng ngữ pháp nói lên đặc điểm của từng ngôn ngữ, làm sao con người có thể nhận biết ngôn ngữ của mình có đặc điểm gì, tinh hoa gì mà không phải ngôn ngữ nào

24、 cũng có? Làm sao có thể trách người dịch khi họ không được trang bị những thức kiến tối thiểu về ngôn ngữ: Thành tố (constituent) là gì? Cấu trúc ngữ đoạn (pharse structure) là gì? Tiếng Việt có những quy tắc ngữ pháp nào? V.v. và v.v.. Có nhà trường nào dạy cho họ những thứ ấy hay không? Ðó là chư

25、a kể có trường hợp người dịch sống lâu năm ở hải ngoại, bị bản ngữ ảnh hưởng nặng đến nỗi, khi dịch, họ đã vô tình phản chiếu hầu như 1-1 cái cấu trúc bề mặt của ngoại ngữ vào tiếng Việt. Hãy xem một vài ví dụ sau đây mà người dịch tưởng rằng người Việt nào nghe cũng lọt lỗ tai. Câu bị động (passi

26、ve sentence):   My father was fined by the police. Ðây là cách lập câu bị động thông thường trong tiếng Anh. Nhiều người hay dịch sát chữ câu trên sang tiếng Việt:   Bố tôi bị phạt bởi công an. Câu này bị lai cấu trúc tiếng Anh. Theo tính tịnh tiến của tiếng Việt, không ai hỏi:   Bố tôi bị

27、 phạt bởi ai? Trong thực tế, người Việt không nói vậy mà nói:   Bố tôi bị công an phạt. bởi cách trả lời này mang tính tịnh tiến:   Bố anh bị gì? Từ đây có nhiều câu trả lời:   Bố tôi bị bệnh (hoặc thất nghiệp, phạt, lường gạt, v.v.) Giả sử bị ai đó làm gì, người Việt sẽ hỏi:   Bố an

28、h bị ai làm gì? Từ đây mới có câu trả lời tịnh tiến, ví dụ:   Bố tôi bị công an phạt.   Bố tôi bị hãng sa thải.   Bố tôi bị người ta lường gạt. Chứ không ai nói:   Bố tôi bị sa thải bởi hãng.   Bố tôi bị lường gạt bởi người ta. Hoặc tương tự vậy, người Việt không nói:   Ông ta bị cắn bở

29、i chó.   Ðứa con út được cưng chìu bởi bố mẹ.   Cuộc thi hoa hậu được tổ chức bởi hãng nước hoa Chanel.   Tội ác sẽ bị lên án bởi xã hội. mà nói:   Ông ta bị chó cắn.   Ðứa con út được bố mẹ cưng chìu.   Cuộc thi hoa hậu do hãng nước hoa Chanel tổ chức.   Tội ác sẽ bị xã hội lên án. Giả n

30、hư “chó”,“bố mẹ”,“hãng nước hoa Chanel”,“xã hội” không đóng vai trò theta (q role) như một tác nhân (3), tức yếu tố gây ra hành động, đi chăng nữa, vẫn có trường hợp muốn diễn tả thái bị động (passive voice) mà người Việt không thể bắt chước y hệt cách lập câu của người Anh:   A mountain was seen

31、in the distance.   * Một ngọn núi được trông thấy ở đằng xa. (4) Câu dịch sát chữ như vậy không được tự nhiên vì chúng ta đã vô tình sao chép nguyên cấu trúc tiếng Anh vào câu tiếng Việt. Cách hành ngôn đó là của người Anh. Cách hành ngôn của người Việt khác:   Người ta thấy có một ngọn núi ở đ

32、ằng xa.   Người ta thấy một ngọn núi ở đằng xa.   Có một ngọn núi ở đằng xa. Cách hành ngôn trên mang tính tịnh tiến, ví dụ: Hỏi: Người ta thấy gì? Trả lời: Người ta thấy một ngọn núi. Hỏi tiếp: ... ngọn núi nào/ở đâu. Cuối cùng là câu trả lời: Người ta thấy một ngọn núi ở đằng xa. Cả những

33、 cấu trúc đề diễn chứa mệnh đề chính (main clause) và mệnh đề phụ (subordinate clause) trong tiếng Anh tưởng chừng rất dễ dịch sang tiếng Việt, thế nhưng không hẳn thế:   It was I who knocked at your door. Nguyên câu trên là mệnh đề chính. Ðoạn “who knocked at your door” là mệnh đề phụ. Ðây là hìn

34、h thức câu chẻ (cleft sentence) rất thông dụng trong tiếng Anh. Nếu sao chép cấu trúc này vào tiếng Việt, chúng ta sẽ được một câu nghe khá lạ tai:   Ðó là tôi người đã gõ cửa phòng anh. Người Việt không nói thế. Cao lắm họ nói:   Chính tôi đã gõ cửa phòng anh. Hình thức câu chẻ trên hầu như khô

35、ng thấy trong tiếng Việt. Hoặc hình thức dùng “to”:   You forget to answer his letter.   * Anh quên để trả lời bức thư của hắn. Người Việt không nói vậy mà thông thường là:   Anh quên trả lời thư hắn.   Anh quên trả lời bức thư của hắn. Hoặc:   I’ll come to see you tomorrow.   Tôi sẽ tới để

36、thăm anh ngày mai. * Ðối với trường hợp này, vẫn có cách nói thuần túy Việt Nam: Mai tôi sẽ tới thăm anh. Ngày mai tôi sẽ tới thăm anh. Nói chung, thay vì dùng “to” giữa hai động từ như người Anh, người Việt thường ghép hai động từ lại một: “quên trả lời”, “tới thăm”, ... Tất nhiên trong tiếng V

37、iệt cũng có cách dùng“để” mà thường bị hiểu nhầm là hoàn toàn đồng nghĩa với “to” của tiếng Anh hoặc “zu” của tiếng Ðức. Trong tiếng Việt, “để” nằm giữa hai động từ cốt để diễn tả một hành động nhằm mục đích gì, hoặc để diễn tả ý nghĩa nhằm mục đích gì:   Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn.

38、   Sở dĩ tôi phải giải thích dông dài là để anh đừng hỏi nữa. Tiếng Anh là một loại ngôn ngữ tuyến tính giống như tiếng Việt, đặc biệt là cấu trúc câu xác định, tuy vậy, hai ngôn ngữ không giống nhau hoàn toàn (các ví dụ trên đã cho thấy). Ngữ pháp có thể bị người dịch thiếu hiểu biết vô tình làm

39、 hư mất. Nhưng lạ thay, đối với giới dịch thuật Việt Nam có lẽ điều này không đúng hẳn. Nhìn vào thực tế, ai cũng thấy có một hiện tượng khá lạ lùng là khi dịch tiếng Việt sang ngoại ngữ, người dịch cố gắng viết đúng ngữ pháp của ngoại ngữ ấy, ngược lại, khi dịch một ngoại ngữ sang tiếng Việt, người

40、 dịch lại sao chép cấu trúc ngữ pháp của ngoại ngữ ấy vào tiếng mẹ đẻ của mình. Ðây là một điểm yếu tiêu biểu của người Việt. Trong khi đó, lấy tiếng Ðức làm ví dụ, thử đọc bất cứ cuốn sách nào dịch sang tiếng Ðức, người đọc phải công nhận, người dịch luôn bảo đảm viết đúng ngữ pháp tiếng Ðức. Ðiều

41、này chẳng có gì khó hiểu, bởi giới dịch thuật có bài bản là giới không những chỉ thành thạo ngôn ngữ một cách vô thức như người thường (hiểu theo Chomsky là người nói/nghe lý tưởng) mà còn có tri thức ngôn ngữ, nghĩa là ít nhiều gì họ cũng có học về ngôn ngữ học, trong đó, cú pháp (syntax) và ngữ ng

42、hĩa (semantic) là hai bộ môn bắt buộc. Lý do cần kiến thức cú pháp là để tránh vấn đề ngữ pháp, lý do cần kiến thức ngữ nghĩa là để tránh vấn đề diễn giải nội dung. Làm chủ kiến thức ngôn ngữ vẫn chưa đủ, họ còn có ý thức bảo vệ tính trong sáng của ngôn ngữ. Có thể nói rằng, kiến thức ngôn ngữ và ý

43、thức ngôn ngữ là hai điều kiện căn bản bắt buộc mỗi người dịch thuật chuyên nghiệp phải có. Thế thì chúng ta, mỗi người đã từng dịch thuật, hãy tự hỏi mình đã đạt được những điều kiện ấy chưa? Nên nhớ, viết hay chưa đủ mà còn phải viết đúng ngôn ngữ. Ðiều này hết sức quan trọng, vì khi người đọc ti

44、ếp thu cái sai của chúng ta, nó sẽ tiếp tục lây lan như bịnh dịch, làm tiếng Việt càng thêm bịnh. Nói thế, chắc sẽ có ý kiến cho rằng, các ngoại ngữ mạnh như tiếng Anh chẳng hạn, nhờ cấu trúc đa dạng, họ có thể diễn đạt nội dung một cách phong phú, dễ dàng; điều này ta nên học hỏi. Theo tôi, cái nh

45、ìn này có vẻ thuần cảm xúc. Người có ý kiến ấy có lẽ chưa nhìn thấy mặt giới hạn của tiếng Anh. Hãy thử nhìn vào các lý thuyết nguyên thủy dựa trên ngữ pháp tiếng Anh như Ngữ pháp biến hình tạo sinh (Generative Transformation Grammar), Lý thuyết căn bản (Standard Theory), Lý thuyết căn bản mở rộng (

46、Extended Standard Theory), Lý thuyết chi phối và ràng buộc (Government and Binding Theory [GB]), Nguyên tắc và thông số (Principles and Parameters [P&P]), Cực tiểu luận (Minimalism (MP]) của Chomsky (5). Quy tắc ngữ pháp được lập nên từ các lý thuyết đó đã phải được bổ sung, mở rộng để thỏa các cấu

47、trúc ngôn ngữ khác mà tiếng Anh không có, ví dụ phần lớn quy tắc cấu trúc ngữ đoạn của tiếng Anh chỉ là một tập hợp con của tiếng Việt (tất nhiên tiếng Anh cũng có các cấu trúc mà tiếng Việt không có). Cụ thể, nhờ lý thuyết thanh-X (X-bar theory) (6), người ta có thể gói ghém hầu hết các cấu trúc ti

48、ếng Anh vào 3 quy tắc: Quy tắc biệt định ngữ (specifier phrase rule):   X’ --> (YP) X’ Quy tắc phụ ngữ (adjunct phrase rule):   X’ --> X’ (ZP) | (ZP) X’ Quy tắc bổ ngữ (complement phrase rule):     X’ --> X (WP) Thế nhưng các quy tắc trên không thể giải thích mọi ngôn ngữ. Nó phải được mở rộng t

49、hành: Quy tắc biệt định ngữ:   X’ --> X’ (YP) | (YP) X’ Quy tắc phụ ngữ:   X’ --> X’ (ZP) | (ZP) X’ Quy tắc bổ ngữ:   X’ --> X (WP) | (WP) X Kết quả, chúng có thể giải thích được các ngôn ngữ Ấn-Âu (Thổ, Ba Lan, Ý, ...), cả tiếng Tàu cũng không thành vấn đề, song đụng tới tiếng Việt là thất bại

50、 ngay. Tại sao? Bởi làm sao có thể giải thích được tính cảm đề của tiếng Việt, hoặc tính tỉnh lược, hoặc những loại từ không nằm trong các lớp từ “verb class”, “noun class”, “adjective class”, “prepositional class” mà xưa nay các nhà ngôn ngữ Tây phương cứ nghĩ ngôn ngữ tự nhiên (natural language) c

移动网页_全站_页脚广告1

关于我们      便捷服务       自信AI       AI导航        抽奖活动

©2010-2026 宁波自信网络信息技术有限公司  版权所有

客服电话:0574-28810668  投诉电话:18658249818

gongan.png浙公网安备33021202000488号   

icp.png浙ICP备2021020529号-1  |  浙B2-20240490  

关注我们 :微信公众号    抖音    微博    LOFTER 

客服